

Công cha ngàn đời tâm tưởng mãi
Nghĩa mẹ muốn thuở nhớ thương hoài.
“Thầy”
Anh em chúng tôi cũng không biết chính xác rõ ràng tại sao chúng tôi gọi người sinh thành ra chúng tôi là “Thầy” - chỉ biết rằng bố và các cô chú bác gọi ông nội tôi là “Thầy” nên chúng tôi bắt chước gọi theo. Sau này tìm hiểu thêm mới biết do ông nội tôi là thầy lang chữa bệnh trong làng và cũng là một nhà nho dạy học, mà nhà nho hay người theo nho giáo thường hay gọi bố là “Thầy”.
“Thầy” tôi sinh ngày 19 tháng 9 năm 1929 tại làng Liên Thuỷ, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Việt Nam là một trong những người có học thức trong làng - Với đất nước “Thầy” là một chiến sĩ quả cảm, không ngại gian nguy, yêu nước, yêu dân tộc, yêu tự do - Với gia đình, “Thầy” tận tụy hy sinh, nhẫn nhục chịu đựng, lo cho gia đình quên bản thân - Với xã hội, “Thầy” hoạt bát hiền lành biết điều, thích làm việc thiện việc nghĩa, ăn ở hoà thuận với họ hàng, bạn bè, hàng xóm và cũng rất sùng đạo. “Thầy” mất lúc 6:23 sáng ngày 5 tháng 6 năm 2022 hưởng thọ 93 tuổi sau hơn hai tháng chống chọi với cơn bệnh tật; anh em chúng tôi lúc nào cũng có người thay phiên nhau bên cạnh “Thầy” khi bệnh viện cho phép.
Với đất nước “Thầy” là một chiến sĩ quả cảm, không ngại gian nguy, yêu nước, yêu dân tộc, yêu tự do. “Thầy” gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hoà vào ngày 24 tháng 2 năm 1950, lúc mới 21 tuổi tại miền bắc Việt Nam, mang gia đình di cư vào nam năm 1954, ròng rã xông pha trận địa từ miền bắc đến miền trung rồi vào miền nam đến cuối cuộc chiến 30/4/1975 tại miền tây. Trận chiến cuối cùng “Thầy” tham dự khi ông trực thuộc Liên Đoàn 954 Địa Phương Tân Lập đóng tại phi trường Sóc Trăng, là tử thủ và giải tỏa phi trường Sóc Trăng đêm 28 tháng tư đến rạng sáng ngày 29 tháng tư năm 1975. Trong trận này 2 tiểu đoàn có cả đặc công Cộng Sản tham chiến, hơn trăm xác giặc cộng đã bỏ thây ngay trên trận địa. “Thầy” cũng đã bị thương bên chân trái và được đưa vào điều trị tại bệnh viện quân y Sóc Trăng. Ngày 30-4-75 khi Tổng Thống Dương Văn Mình tuyên bố đầu hàng, trong bệnh viện lác đác còn lại dăm ba người không tự di chuyển được. May thay một người lính bảo “Thầy” “ông mà còn nằm đây, tụi nó vô, giết ông liền” và vì tình đồng đội người lính đã cõng “Thầy” rời bệnh viện, gọi xe lôi đưa “Thầy” ra bến xe đò mua vé về Bạc Liêu. Khoảng hơn 10 giờ sáng ngày 1-5-1975 “Thầy” về đến nhà trên chiếc xe xích lô, mặc áo may-ô với quần xà lỏng, đi chân không và một chân bị băng bột trắng xoá. Gia đình tôi vừa bàng hoàng xứng sốt lẫn vui mừng sung sướng vì “Thầy” đã về. Đến ngày được gọi là “học tập cải tạo”, “Thầy” vẫn phải mang nạng ròng rã 8 tháng trời trong trại tù Cộng Sản. Trong suốt hơn 25 năm quân ngũ, “Thầy” đã 5 lần bị thương (1951 bị thương trên đầu, 1954 dẫm nhằm bom bị thương toàn thân, 1969 bị thương chân trái, 1970 bị thương bàn chân phải và 29/4/1975 bị thương chân trái). Sau này, “Thầy” vẫn còn đi hơi khập khiễng và một số mảnh đạn vẫn còn trong người. “Thầy” là một người chính trực, không quan liêu, không bè phái nên cuộc đời binh nghiệp của “Thầy” thường hay lận đận lao đao (cụ thể nhất ông Thiếu Tá xéo mặt nhà lên đến chức Đại Tá rồi làm Tỉnh Trường trong khi “Thầy” Đại Úy vẫn hoàn Đại Úy) nhưng “Thầy” không bất mãn, không than van, không trách móc…!!! Đủ tuổi lính được ăn hưu bổng, “Thầy” làm đơn xin giải ngũ, hồ sơ xét chưa xong thì Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền nam.
Với gia đình, “Thầy” tận tụy hy sinh, nhẫn nhục chịu đựng, lo cho gia đình quên bản thân. “Thầy” thường nói với anh em chúng tôi: “‘Thầy‘ Mẹ gia tài không có gì để lại cho các con, nhưng về việc học hành các con muốn học đến đâu, ‘Thầy’ Mẹ lo cho các con đến đó.” Và “Thầy” đã thực hiện hoàn thiện điều “Thầy” nói như khi là một người lính ở trong nước cũng như khi là người Việt tỵ nạn ở trại tạm dung cũng như tại trên đất nước Hoa Kỳ. Ở trong nước, hầu như gia đình tôi sống hoàn toàn nhờ vào đồng lương lính của “Thầy”. Tiền lương lính ông đưa hết cho Mẹ để lo cho chúng tôi, đôi khi vẫn không đủ, thỉnh thoảng Mẹ phải đi cầm bán nữ trang của mình để lo cho chúng tôi. Dù vậy, anh em tôi cũng được học hành đến nơi đến chốn. Trước 1975 anh em tôi những người trên 18 tuổi đều đỗ tú tài, đang học đại học hoặc đã học xong ra trường đi làm. Sau 1975, tôi và đứa em gái vẫn được “Thầy” Mẹ lo cho học đại học dù nhà đã bị bọn Cộng Sản cướp lấy và phải về ruộng làm nghề nông. Vì không thể sống dưới chế độ tráo trở, khoác lác, độc tài, gian manh, cướp của, giết người của bọn Cộng Sản vô thần, gia đình tôi đã tự quyết định làm lấy một chiếc thuyền nhỏ đi bắt cá, cào tôm rồi tìm cách vượt biên trốn ra nước ngoài dù trước đó không ai biết gì về biển cả, thả lưới, chài cá, bắt tôm… Sau gần 3 ngày chèo lái trên biển cả, “Thầy” Mẹ cùng 5 anh em độc thân chúng tôi (2 anh chị đã có gia đình và con nhỏ phải ở lại cho sự an toàn của chuyến đi) đã đến được bến bờ tự do Malaysia. Vừa đặt chân lên bờ, “Thầy” quỳ gối, làm dấu thánh giá, ngẩng mặt lên trời tạ ơn Thiên Chúa đã gìn giữ che chở con tàu nhỏ nhắn mong manh, “Thầy” ưỡn ngực giang hai tay thật rộng hít thật dài mùi “Tự Do” xong, “Thầy” úp mặt xuống mặt cát “hôn”, hai tay nắm hai nắm cát đưa ngang trước mặt, từ từ thả ra, những hạt cát chầm chậm rơi, mặt “Thầy” rạng sáng, tươi vui, tự đắc…!!! Gia đình “Thầy” được đưa qua đảo Pulau Bidong. Chỉ hơn 2 tuần sau phái đoàn Mỹ phỏng vấn, gia đình “Thầy” được nhận và tuần sau đưa trở lại đất liền đến trại chuyển tiếp Sungai Besi Vietnamese Transit Camp, Kuala Lumpur chờ chuyến bay đi Mỹ. Không may cho “Thầy” số lận đận vẫn còn, trong lúc khám sức khỏe, chờ lên phi cơ đi định cư, thấy trong phổi “Thầy” có vi trùng lao (TB) nên “Thầy” và gia đình bị giữ lại để trị bệnh. Thế là Mẹ cùng 5 anh em đem “Thầy” ra mổ xẻ hành tội nào là “tại ‘Thầy’ hút thuốc lào nên mới bị bệnh TB”, “Tối ngày cứ ở trên ‘đồi tôn giáo’ nhà thờ làm việc không công, quá sức nên bị bệnh”, … “Thầy” vẫn ngồi yên lặng, không nói cúi mặt lắng nghe mọi người hành tội mình. Cũng từ ngay lúc đó “Thầy” tự bỏ thuốc và cho đến nay, chưa bao giờ thấy “Thầy” cầm điếu thuốc hay hít ké một hơi thuốc nào. Sau hơn 4 tháng ở lại trại chuyển tiếp trị hết bệnh, Mỹ đổi chương trình tỵ nạn không cho đi trực tiếp qua Mỹ mà phải qua trại chuyển tiếp học Anh văn cùng đời sống mới (no exception, không có ngoại lệ). Thế là “Thầy” và gia đình lại một lần nữa khăn gói qua trại chuyển tiếp Bataan Philippine Refugee Processing Center Camp, Philippines; và sau 1 năm từ ngày chạy trốn Cộng Sản, “Thầy” Mẹ cùng 5 đứa con đến vùng đất hứa Hoa Kỳ.
Gia đình “Thầy” được hội thiện nguyện YMCA bảo lãnh đưa về Houston Texas ở được hơn 3 tuần, “Thầy” và gia đình quyết định qua định cư và sống tại thành phố New Orleans Louisiana vì có người bà con giúp đỡ buổi ban đầu cùng người bạn lính hứa giúp “Thầy” tìm việc làm. Được người thân cho mượn tiền ngay vào ngày khai trương khoá học hè, thế là 5 anh em lại được cắp sách đến trường. “Thầy” lại một mình đi làm cộng việc dọn dẹp trên phi trường Louis Armstrong New Orleans International Airport kiếm tiền nuôi sống cả gia đình cùng cho anh em chúng tôi đi học. Mỗi sáng Mẹ thức dậy thật sớm để cơm nước sẵn sàng 6 hộp (gà mèn) cơm cho “Thầy” đi làm cùng 5 anh em đi học. Thời gian sau “Thầy” tìm được việc xếp hàng (stock clerk) trong chợ Schwegmann Supermarket, “Thầy” xin làm công việc ban đêm để được lương cao hơn và làm nhiều giờ hơn (work-overtime). Năm anh em chúng tôi đã thành tài - 2 bằng kỹ sư (Engineer), 3 bằng cử nhân khoa học (Bachelor of Science), và người chị kế tôi sau 2 năm đại học lấy chồng qua Houston làm nghề nhân viên ngân hàng (Bank Teller) và nghề móng tay (Nail). “Thầy” sau một năm định cư tại nước Mỹ vừa được thẻ xanh (U.S. Resident) liền lập tức làm đơn bảo lãnh hai gia đình hai người con còn kẹt lại ở Việt Nam. “Thầy” đã tự động, không biết bao lần lên xuống Immigration Office xin đơn bảo lãnh, đi chỗ này chạy chỗ kia, đem đơn hồ sơ về tự điền lấy rồi đem nạp trong khi vẫn phải đi làm nhiều giờ ban đêm. Tám năm sau gia đình người anh với vợ cùng 3 đứa con được qua định cư ở Mỹ; còn gia đình người chị đến phút cuối cùng không chịu đi, bao nhiêu công lao mồ hôi nước mắt của “Thầy” tan mây khói - “Thầy” vẫn không một lời trách móc, bực bội, hờn giận. Hơn chục năm sau con chị đã lớn, học thành tài, nhưng công việc bấp bênh, lương lậu không bao nhiêu, mất lên mất xuống… chị lại muốn qua Mỹ; thế là “Thầy” lại phen nữa, chạy đôn đáo, lo giấy tờ, nộp hồ sơ bảo lãnh chị. Chị đã đến Mỹ hơn sáu năm nay, đã có quốc tịch Mỹ và nhờ luật sư làm hồ sơ bảo lãnh hai đứa con; không như “Thầy” với vốn liếng tiếng Anh ít ỏi, công việc trần ai lo cho gia đình chị. Con dâu con rể của “Thầy”, theo tôi biết, cũng tôn trọng, quý mến, lo lắng, thương yêu “Thầy” không thua gì anh em chúng tôi; “Thầy” khi đàm đạo với con dâu con rể, “Thầy” còn trìu mến hơn cả khi nói chuyện với anh em chúng tôi và dùng chữ cẩn thận nhẹ nhàng hơn so với người ngoài…
“Thầy” hoạt bát hiền lành biết điều, thích làm việc thiện việc nghĩa, ăn ở hoà thuận với họ hàng, bạn bè, hàng xóm và cũng rất sùng đạo. “Thầy” nói chuyện chậm rãi, dùng đúng chữ không cầu kỳ không kiểu cách, nói năng ôn hoà lễ độ ít khi mất lòng ai. Vì thế trong dòng họ khi có chuyện, thường hay nhờ “Thầy” đứng ra đại diện ăn nói xã giao. Xã hội Việt Nam thời xưa nhất là đám cưới đám hỏi đám nói, 2 họ nhà trai nhà gái thường lựa ra những người ăn nói hay, hoạt bát, ứng sử linh hoạt, đôi khi họ nhả này nói những câu khiêu khích họ nhà kia… Tôi đã chứng kiến bao cuộc hành sử của “Thầy”, ông lắng nghe, ít nói và khi nói chỉ nói vừa đủ, dùng những lời hoà nhã khiêm tốn lịch sự đối đáp; chưa bao giờ tôi thấy “Thầy” dùng những lời lẽ quá đáng nặng nhọc dù chỉ tí ti thôi. Anh em chúng tôi rất ngưỡng mộ khâm phục cách hành sử đối đáp của “Thầy”. Thời lính Mỹ vào Việt Nam ở những nơi Mỹ trú quân, “Thầy” đã giới thiệu bảo lãnh cho nhiều người trong xóm được vào làm trong sở Mỹ. Ai trong xóm đến nhờ, “Thầy” đều làm giúp họ, có khi còn cầm cả lý lịch đơn xin việc cùng giấy bảo lãnh của “Thầy” vào nộp luôn cho họ. Trước 1975 chúng tôi ít có dịp được gần “Thầy” vì người là lính luôn xa nhà xa vợ con. Khi ra khỏi nước chúng tôi có dịp gần gũi với “Thầy” nhiều hơn. Ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, “Thầy” túc trực trên đồi Tôn Giáo đến đêm khuya mới về, có những lúc phải ngồi chờ cơm hay lên gọi “Thầy” về - Thầy” hết hạ, sẻ, cưa cây, lại đục dũa bào mài, quét dọn sửa sang, không việc gì “Thầy” từ chối chẳng làm. Qua Mỹ, khi “Thầy” còn mình mẩn, sáng suốt không ngày Tết ngày vui cộng đồng Việt Nam nào, không buổi lễ tôn giáo lớn nào, không ngày lễ kỷ niệm như ngày Quốc Hận 30 tháng 4, ngày quân lực Việt Nam Cộng Hoà 19 tháng 6… thiếu bóng “Thầy”. “Thầy” tình nguyện (volunteer) gói bánh chưng, dọn dẹp, hốt đổ rác… hay “Thầy” chỉ là người đến xem cùng con cháu. Ông tham gia nhiều hội đoàn tôn giáo, thăm người bệnh, giúp người mới tới… “Thầy” không biết đã công hiến bao nhiêu công sức tiền của cho những hội từ thiện, bão lụt, nước ngập, trẻ mô côi, thương phế binh cả Việt lẫn Mỹ; nổi bật nhất là “Thầy” đứng ra bảo trợ (sponsor) những đứa trẻ khuyết tật luôn cần có người săn sóc nuôi nấng của toà giám mục giáo xứ Bùi Chu ròng rã suốt gần 20 năm đến khi “Thầy” không còn lái xe được và trí nhớ suy sụp. Lúc đầu chỉ bảo trợ được khoảng mười em; nhờ sự đóng góp của “Thầy” với những đứa con và vài người thân thiết, sau bảo trợ lên đến 15-18 em nhờ sự giao thiệp rộng rãi, tính thẳng thắn, phân minh chính xác của “Thầy” - gồm hình ảnh gia đình những đứa trẻ được bảo trợ, chữ ký người nhận tiền cùng thư hồi âm có cả dấu ấn cùng chữ ký của cha đại diện toà giám mục Bùi Chu.
“Con hơn cha là nhà có phúc”, đúng vậy! nếu có, chúng con chỉ hơn “Thầy” ở cái học hành bằng cấp nhưng học cao có bằng cấp từ đâu mà ra? Có phải nhờ sự yêu thương, nhẫn nhục, chịu đắng nuốt cay, hy sinh cần kiệm của “Thầy” Mẹ cho chúng con không? Còn tất cả những thứ khác, 7 đứa con chỉ biết nhìn “Thầy” ngưỡng phục. Cám ơn thượng đế đã cho chúng con có “Thầy”. “Thầy” là tấm gương sáng, ngọn hải đăng chỉ đường cho chúng con noi theo!
Trong những tháng năm cuối cùng của “Thầy”, anh em chúng con tuy mỗi người mỗi ý nhưng rất yêu quý trọng “Thầy”; sẵn sàng bỏ hết công việc riêng tư, lo cho “Thầy”, đền đáp công ơn nuôi nấng dạy dỗ của “Thầy”. Chúng con rất hãnh diện, sung sướng được làm con của “Thầy” và hứa sẽ noi gương “Thầy” để hướng dẫn dạy dỗ con cháu thành tài, ăn học đến nơi đến chốn, biết người biết ta và biết hành sử sao cho phải đạo.
Đứa con thứ sáu Phạm Dũng Tiến
đại diện 7 anh em gởi lời từ biệt đến “Thầy”
=============================================================================
TU DUC PHAM, age 92, of Houston, Texas passed away on Sunday, June 5, 2022. TU was born September 19, 1929.
A Wake Service and Praying for Tu Pham will be held Thursday, June 9, 2022 from 4:00 PM to 7:30 PM at Chapel of Eternal Peace at Forest Park, 2454 S Dairy Ashford, Houston, TX 77077. (281)-531-8180
A visitation will occur Friday, June 10, 2022 from 3:00 PM to 7:30 PM, 2454 S Dairy Ashford, Houston, TX 77077.
A funeral service will occur Saturday, June 11, 2022 from 9:00 AM to 10:00 AM at Christ The Incarnate Word Church, 8503 S Kirkwood Rd, Houston, TX 77099. (281)- 495-8133
A committal service will occur Saturday, June 11, 2022 from 11:30 AM to 12:30 PM at Forest Park Westheimer Cemetery, 12800 Westheimer Road, Houston, TX 77077.
Fond memories and expressions of sympathy may be shared at www.chapelofeternalpeace.com for the PHAM family.
COMPARTA UN OBITUARIOCOMPARTA
v.1.18.0